Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Tình hình đầu tư phát triển ngành Công nghiệp Dệt May quốc doanh thuộc Sở Công nghiệp Hà Nội

hiện đại, giá rẻ.
Chỉ tiêu ICOR của mỗi nớc phụ thuộc vào nhiều nhân tố, thay đổi theo
trình độ phát triển kinh tế và cơ chế chính sách trong nớc. Kinh nghiệm của các
nớc cho thấy, chỉ tiêu ICOR phụ thuộc mạnh vào cơ cấu kinh tế và hiệu quả đầu
t trong các ngành, các vùnh lãnh thổ cũng nh phụ thuộc vào hiệu quả của các
chính sách kinh tế nói chung.
Đối với các nớc đang phát triển, phát triển về bản chất đợc coi là vấn đề
đảm bảo các nguồn vốn đầu t đủ để đạt đợc tỷ lệ tăng thêm sản phẩm quốc nội
dự kiến. Tại nhiều nớc, đầu t đóng vai trò nh một cái huých ban đầu, tạo đà cho
sự cất cánh của nền kinh tế ( các nớc NICS, các nớc Đông Nam á )
d. Đầu t và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Kinh nghiệm của các nớc trên thế giới cho thấy con đờng tất yếu để có thể
tăng trởng nhanh tốc độ mong muốn (từ 9% 10%) là tăng cờng đầu t tạo ra
sự phát triển nhanh ở khu vực công nghiệp và dịch vụ. Đối với các ngành nông-
ng nghiệp do có hạn chế về đất đai và khả năng sinh học , để đạt đợc tốc độ
tăng trởng từ 5% 6% là rất khó khăn. Nh vậy chính sách đầu t quyết định
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia nhằm đạt đợc tốc độ tăng
trởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế đất nớc.
Về cơ cấu lãnh thổ, đầu t có tác dụng giải quyết các mất cân đối về phát
triển giữa các vùng và lãnh thổ, đa vùng kém phát triển thoát khỏi đói nghèo,
phát huy tối đa lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị của
những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy các vùng
khác cùng phát triển
e. Đầu t với việc tăng cờng khả năng khoa học và công nghệ của đất nớc.
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá. Đầu t là điều kiện tiên quyết
của sự phát triển và tăng cờng khả năng công nghệ của đất nớc ta hiện nay.
Theo đánh giá của các chuyên gia công nghệ, trình độ công nghệ của Việt
Nam lạc hậu nhiều thế hệ so với thế giới và khu vực. Việt Nam là một trong số
5
90 nớc kém nhất về công nghệ. Với trình độ công nghệ lạc hậu này, quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu
không đề ra đợc một chiến lợc đầu t phát triển về công nghệ lâu dài, nhanh
chóng và vững chắc.
Có hai con đờng cơ bản để có công nghệ là tự nghiên cứu và phát minh ra
cônh nghệ và nhập công nghệ từ nớc ngoài. Dù tự nghiên cứu hay nhập công
nghệ từ nớc ngoài cũng cần phải có tiền, cần có vốn đầu t. Mọi phơng án đổi
mới công nghệ không gắn với nguồn vốn đầu t đều là những phơng án không
khả thi.
Thứ hai: Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ
Đầu t quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở. Chẳng hạn
để tạo dựng một cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ cơ sở nào đều
cần phải xây dựng nhà xởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm và lắp đặt thiết bị máy
móc trên nền bệ, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản và thực hiện các chi
phí khác gắn liền với sự hoạt động trong một chu kỳ của các cơ sở vật chất kỹ
thuật vừa tạo ra. Các hoạt động này chính là hoạt động đầu t đối với các cơ sở
sản xuất kinh doanh dịch vụ đang tồn tại: Sau một thời gian hoạt động, các cơ
sở vật chất kỹ thuật của các cơ sở này bị hao mòn, h hỏng. Để duy trì đợc hoạt
động bình thờng cần định kỳ tiến hành sửa chữa lớn hoặc thay mới các cơ sở vật
chất kỹ thuật đã h hỏng, hao mòn này hoặc đổi mới để thích ứng với điều kiện
hoạt động mới của sự phát triển khoa học kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùng của nền
sản xuất xã hội, phải mua sắm các trang thiết bị mới thay thế trang thiết bị cũ
đã lỗi thời, cũng có nghĩa là phải đầu t.
Đối với các cơ sở vô vị lợi đang tồn tại, để duy trì hoạt động , ngoài tiến hành
sửa chữa lớn định kỳ các cơ sở vật chất kỹ thuật còn phải thực hiện các chi phí
thờng xuyên. Tất cả những hoạt động này đều là những hoạt động đầu t.
4.Nguồn vốn đầu t phát triển: gồm có nguồn vốn trong nớc và
nguồn vốn nớc ngoài
6
b. Nguồn vốn trong nớc:
Đối với các cơ quan quản lý Nhà nớc, các cơ sở hoạt động xã hội phúc lợi
công cộng vốn đầu t do ngân sách cấp (tích luỹ qua ngân sách và viện trợ
qua ngân sách) vốn viện trợ không hoàn lại trực tiếp cho cơ sở và vốn tự có
của cơ sở ( bản chất cũng tích luỹ từ phần tiền thà do dân đóng góp không
dùng đến).
Đối với doanh nghiệp quốc doanh, vốn đầu t đợc hình thành từ nhiều nguồn
hơn bao gồm vốn ngân sách (lấy từ phần tích luỹ của ngân sách, vốn khấu
hao cơ bản, vốn viện trợ qua ngân sách), vốn tự có của doanh nghiệp, vốn
vay, vốn phát hành trái phiếu, vốn góp liên doanh liên kết với các tổ chức
trong và ngoài nớc và các hình thức huy động vốn khác quy định theo điều
11 nghị định 56/CP ngày 3/10/1996.
Đối với các doanh nghiệp ngoaì quốc doanh vốn đầu t bao gồm vốn tự có,
vốn vay, vốn cổ phần, vốn liên doanh liên kết với các tổ chức và cá nhân
trong và ngoài nớc. Đối với các công ty cổ phần, ngoài các nguồn vốn trên
đây còn bao gồm tiền thu đợc do phát hành trái phiếu.
c. Vốn huy động của nớc ngoài: bao gồm vốn đầu t gián tiếp và vốn đầu t
trực tiếp
Vốn đầu t gián tiếp: là vốn của Chính phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức
phi chính phủ đợc thực hiện dới các hình thức khác nhau là viện trợ hoàn lại
và viện trợ không hoàn lại, cho vay u đãi với thời hạn dài và lãi suất thấp, kể
cả vay dới hình thức thông thờng. Một hình thức phổ biến của đầu t gián tiếp
tồn tại dới loại hình ODA viện trợ phát triển chính thức của các nớc công
nghiệp phát triển. Vốn đầu t gián tiếp thờng lớn cho nên có tác dụng mạnh
và nhanh đối với việc giải quyết dứt điểm các nhu cầu phát triển kinh tế, xã
hội của nớc nhận đầu t. Tuy nhiên tiếp nhận vốn đầu t gián tiếp thờng gắn
với sự trả giá về chính trị và tình trạng nợ nần chồng chất nếu không sử dụng
có hiệu quả vốn vay và thực hiện nghiêm ngặt chế độ trả vốn vay. Các nớc
7
Đông Nam á và NICS Đông á đã thực hiện giải pháp vay dài hạn, vay ngắn
hạn rất hạn chế và đặc biệt không vay thơng mại. Vay dài hạn lãi suất thấp,
việc trả nợ không khó khăn vì có thời gian hoạt động đủ để thu hồi vốn.
Vốn đầu t trực tiếp: là vốn của các doanh nghiệp và cánh ân nớc ngoài đầu t
sang nớc khác và trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý quá trình sử dụng và
thu hồi vốn đã bỏ ra. Vốn này thờng không đủ lớn để giải quyết dứt điểm từng
vấn đề kinh tế xã hội của nớc nhận đầu t. Tuy nhiên với vốn đầu t trực tiếp, nớc
nhận đầu t không phải lo trả nợ, lại có thể dễ dàng có đợc công nghệ (do ngời
đầu t đem vào góp vốn và sử dụng) trong đó có cả công nghệ bị cấm xuất theo
con đờng ngoại thơng vì lý do cạnh trang hay cấm vận các nớc nhận đầu t; học
tập đợc kinh nghiệm quản lý, tác phong làm việc theo lối công nghiệp của nớc
ngoài, gián tiếp có chỗ đứng trên thị trờng thế giới, nhanh chóng đợc thế giới
biết đến thông qua quan hệ làm ăn với các nhà đầu t. Nớc nhận đầu t phải chia
sẻ lợi ích kinh tế do đầu t đem lại với ngời đầu t theo mức độ góp vốn của họ.
II. Vai trò của công nghiệp dệt may đối
với việc phát triển kinh tế xã hội tại
Việt Nam
1. Vai trò của công nghiệp dệt may với tăng tr-
ởng kinh tế
Ngành công nghiệp Dệt May có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh
tế quốc dân nhằm đảm bảo nhu cầu tiêu dùng trong nớc và xuất khẩu, có điều
kiện mở rộng thơng mại quốc tế và mang lại nhiều nguồn thu cho đất nớc.
Trong nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII của Đảng đã chỉ rõ Đẩy mạnh sản
xuất hàng tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu đa dạng ngày càng cao phục vụ tốt cho
nhu cầu trong nớc và xuất khẩu Điều đó chỉ ra rằng công nghiệp Dệt May có
vai trò quan trọng trong tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc. Nó thể
hiện ở những điểm sau:
8
a. Cung cấp hàng hoá tiêu dùng
Một trong những nhiệm vụ hàng đầu của ngành là cung cấp các sản phẩm
cho thị trờng trong nớc. Trớc hêt là đáp ứng đợc các nhu cầu về các mặt hàng
nh các loại quần áo, bít tất, vải vóc từ đơn giản đến phức tạp, từ bình dân đến
cao cấp. Khi chất lợng cuộc sống đợc nâng cao thì nhu cầu về may mặc lại càng
lớn. Các sản phẩm về quần áo thời trang trở thành nhu cầu của hầu hết các tầng
lớp dân c trong xã hội, đặc biệt là giới trẻ. Với một đất nớc có tổng số dân
khoảng 80 triệu ngời thì nhu cầu về may mặc lại càng lớn. Do vậy, đầu t phát
triển cho ngành Dệt May cần có định hớng vào thị trờng trong nớc, sản xuất
nhiều mặt hàng phong phú về mẫu mã và kiểu cách để kích thích tiêu dùng
trong nớc, hớng dẫn khuynh hớng thời trang cho ngời tiêu dùng. Ngành dệt may
đợc tổ chức trên phạm vi toàn quốc, có đủ sức giải quyết mối quan hệ giữa sản
xuất và lu thông trong một tổ chức thống nhất và có sự điều hành chặt chẽ từ
nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ, bán buôn và bán lẻ làm chủ thị trờng trong nớc
trong mọi tình huống, tránh đợc hiện tợng bán quota giữa các đơn vị thành viên(
nhất là các công ty may). Công nghiệp dệt may còn đợc coi là định hớng để
cung cấp sản phẩm cho khoảng 100 triệu dân vào năm 2010.
b. Cung cấp các sản phẩm xuất khẩu, mở rộng thơng mại quốc tế
Lợi thế so sánh là một trong những yếu tố thúc đẩy quan hệ ngoại thơng,
buôn bán trao đổi giữa các quốc gia trên toàn thế giới. Nó góp phần nâng cao
lợi ích của mỗi nớc khi tham gia trao đổi. Trong điều kiện đặc thù, mỗi quốc gia
tự tìm thấy lợi thế so sánh của mình với những quốc gia khác. Đặc trng của
Công nghiệp Dệt May là sử dụng rất nhiều nhân công, nên chi phí nhân công
chiếm một tỷ lệ cao trong tổng giá thành. Việt Nam có chi phí lao động thấp,
lao động dồi dào, cần cù khéo léo, đây chính là một lợi thế của Việt Nam. Việc
tập trung vào lợi thế này sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam hạ giá thành sản phẩm,
tăng khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên việc tận dụng lợi thế này còn phụ thuộc rất
lớn vào khả năng quản lý của các doanh nghiệp Việt Nam. Với đờng lối mở cửa
và hoà nhập thị trờng thế giới nói chung và các nớc trong khu vực nói riêng,
9
cùng với sự chuyển dịch công nghệ đang diễn ra sôi nổi, ngành Dệt May đang
có nhiều thuận lợi để phát triển.
Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc
công nghiệp Dệt May đóng vai trò là ngành tích luỹ t bản cho quá trình phát
triển công nghiệp về sau. Dệt May Việt Nam cũng đã đẩy mạnh xuất khẩu theo
hình thức gia công hoặc phơng thức thơng mại thông thờng với một số nớc có
nền công nghiệp phát triển nh Nhật Bản, Canada, các nớc công nghiệp nh Đài
Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapore Gần đây khi Mỹ bỏ cấm vận và bình
thờng hoá quan hệ với Việt Nam, thì hàng Dệt May có thêm thị trờng Mỹ. Quá
trình tạo sự tin cậy về mặt chất lợng, số lợng, mẫu mã sản phẩm và thực hiện
đúng hợp đồng là một phơng thức nhằm duy trì ốn định và mở rộng thêm thị tr-
ờng quốc tế. Cho đến nay ngành đã có quan hệ buôn bán với 200 công ty thuộc
hơn 40 nớc trên thế giới và khu vực. Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, giá trị
kim ngạch xuất khẩu của ngành Dệt May tăng lên mạnh mẽ. Kim ngạch xuất
khẩu tăng từ 43 triệu USD năm 1988 lên khoảng 2 tỷ năm 2000. Ngành Dệt
May là ngành chế tác có giá trị xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam (kim ngạch
xuất khẩu chỉ đứng sau dầu thô) do lợi nhuận lớn, trong thời kỳ đầu xuất khẩu
nó tạo ra trên 60% giá trị xuất khẩu. Tuy theo dự báo tỷ lệ này sẽ giảm dần
xuống khi quá trình đa dạng hoá xuất khẩu bắt đầu có kết quả, nhng ngành Dệt
May vẫn giữ một vị trí quan trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu, trong năm
1996 ngành chiếm 1/5 tổng kim ngạch. Trong năm 2000 kim ngạch xuất khẩu
là khoảng 2 tỷ USD, đây là ngành công nghiệp mang lại hiệu quả, kim ngạch
xuất khẩu cao nhất. Dự kiến năm 2005 kim ngạch xuất khẩu là 4 tỷ USD, và
2010 là 7 tỷ USD.
Biểu 1: Kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt May của Việt Nam
Biểu 1: Kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt May của Việt Nam
(Đơn vị: Triệu USD)
Năm Dệt May
Dệt
May
Tỷ trọng % của Dệt May trong
Tổng kim ngạch
xuất khẩu
Xuất khẩu của
ngành công nghiệp
10
1985
6,5 21,1 27,5 7,9 55
1986
11,1 36,0 47,1 11,9 54,4
1987
13,3 27,4 40,6 9,1 57,1
1988
15,8 27 42,8 7,9 53,5
1989
25,1 68,1 93,1 8,4 56,1
1990
27,8 90,7 118,5 7,9 56,4
1991
29,4 142,9 172,3 9,9 61,8
1992
36,9 357,2 396,8 15,6 62,2
1993
61,7 521,6 582,7 17,8 52,9
1994
107,8 691,6 799,4 17,8 49,3
1995
147,8 878,8 1026,6 18,2 49,3
1996
175,5 1162,7 1338,5 19,8 41,3
1997
1300
1998
1380
1999
1500
2000
2000
Nguồn: Tổng quan về cạnh tranh công nghiệp Việt Nam năm 1999; tổng cục
thống kê & Bộ Kế hoạch và Đầu t
Với vai trò là ngành cung cấp sản phẩm xuất khẩu và mở rộng quan hệ th-
ơng mại quốc tế ngành đã thu hút vào trong nớc một lợng ngoại tệ đáng kể. Tuy
nhiên, nguyên liệu phụ kiện sản xuất trong nớc còn yếu kém lạc hậu cha có mẫu
mã phù hợp thị hiếu, sản phẩm sản xuất cha đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong
nớc, do đó ngành phải nhập khẩu nguyên vật liệu còn thiếu. Mặt khác để phát
triển ngành Công nghiệp Dệt May, các đơn vị trong ngành hàng năm phải đầu t
thêm vốn để quá trình sản xuất đợc liên tục. Do đó đứng về phơng diện sản xuất
thì cán cân xuất nhập khẩu và vốn đầu t cho ngành là một bộ phận góp phần
tăng trởng GDP của toàn ngành Dệt May dẫn đến tăng trởng GDP toàn ngành
Công nghiệp và GDP của cả nớc.
Nh vậy, ngành Dệt May là ngành có năng lực cạnh tranh cao trong quá
trình hội nhập thơng mại quốc tế, là ngành xuất khẩu chủ lực của ngành công
11
nghiệp Việt Nam trong những năm qua.
2. Vai trò của Công nghiệp Dệt May với việc góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam
Ngành Công nghiệp Dệt May là một bộ phận cấu thành công nghiệp Việt
Nam trong cơ cấu ngành (Công nghiệp - Xây dựng; Nông nghiệp; Dịch vụ) của
cơ cấu nền kinh tế. Công nghiệp Dệt May là một bộ phận tích cực góp phần
quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam.
Công nghiệp Dệt May phát triển sẽ làm tăng tỷ trọng phần trăm (%) công
nghiệp trong cơ cấu kinh tế. Công nghiệp Dệt May là ngành sản xuất ra sản
phẩm vật chất phục vụ cho tiêu dùng. Giá trị gia tăng của ngành đợc xác
định dựa trên cơ sở hạch toán các khoản chi phí, các yếu tố sản xuất và lợi
nhuận của các cơ sở sản xuất và dịch vụ trong ngành. Do vậy phát triển
ngành Dệt May sẽ làm tăng thêm giá trị gia tăng của ngành công nghiệp,
tăng tỷ trọng GDP của ngành công nghiệp.
Công nghiệp Dệt May thúc đẩy các ngành ngợc chiều phát triển. Ngành
Công nghiệp Dệt May sử dụng nguyên liệu từ ngành nông nghiệp nh đay,
bông, tằm Do đó nó đòi hỏi ngành nông nghiệp cũng phải phát triển theo.
Đơn cử nh về diện tích trồng bông vải, trên cả nớc có 226000 ha, năng suất
bình quân 9 tạ/ 1ha. So với năm 1996 là 10100 ha tăng 2,24 lần; năng suất
bình quân là 6,4 tạ/ha tăng 1,4 lần. Sản xuất bông trong 5 năm qua có tốc độ
tăng bình quân của sản xuất bông là 16%/năm cả về diện tích và sản lợng.
Công nghiệp Dệt May thúc đẩy các ngành xuôi chiều phát triển. Sản phẩm
của ngành sản xuất ra đợc phân phối trong phạm vi trong và ngoài nớc và
làm nguyên liệu đầu vào cho các ngành khác. Trớc hết sản phẩm của ngành
Dệt là đầu vào của ngành May, ngoài ra nó còn cung cấp cho các ngành khác
nh trang trí nội thất, giày da, bao bọc bàn ghế Để có khả năng tái sản xuất
ngành thì cần phải thông qua các ngành dịch vụ nh thông tin quảng cáo, bu
điện, dịch vụ bán hàng, ngành vận tải
12
Công nghiệp Dệt May thúc đẩy các ngành gián tiếp phát triển. Trong sản
xuất kinh doanh, nếu ngành dệt may có nhu cầu sản xuất lớn thì kéo theo
các ngành khác cũng phát triển, ví dụ nh: ngành điện đảm bảo cho công suất
máy hoạt động liên tục, ngành hoá chất phục vụ cho in vải thành phẩm,
ngành chế tạo máy móc Chẳng hạn nh ngành cơ khí chế tạo máy, để đáp
ứng nhu cầu của ngành Dệt May, Nhà nớc có chủ trơng đầu t phát triển cơ
khí Dệt May. Từ 2001 2005, tập trung đầu t cho hai công ty cơ khí Dệt
May phía Bắc và phía Nam đủ năng lực sản xuất phần lớn phụ tùng cho
ngành , tiến tới lắp ráp một số máy dệt; tiếp đó đầu t để có thể chế tạo máy
dệt cung cấp cho nội địa và xuất khẩu.
Tóm lại, Công nghiệp Dệt May tác động tích cực đến cả ba ngành Công
nghiệp, Nông nghiệp, Dịch vụ của cơ cấu nền kinh tế cả về mặt chất và mặt l-
ợng.
3. Vai trò của Công nghiệp Dệt May với giải quyết
các vấn đề xã hội
Ngành Dệt May là ngành không cần nhiều vốn đầu t so với các ngành
công nghiệp khác. Nh ngành may chỉ cần đầu t khoảng 800000 1000000
USD cho một xí nghiệp công suất 1 triệu sản phẩm/năm. Trong quá trình sản
xuất từ các yếu tố đầu vào cho đến khi đa ra một sản phẩm Dệt May hoàn chỉnh
có nhiều công đoạn thủ công đơn giản (đặc biệt là ngành May), do đó ngành dễ
giành giải quyết và thu hút việc làm cho ngời lao động kể cả lao động xuất phát
từ nông thôn, từ đó tăng thu nhập cho ngời lao động. Năm 2000 ngành Công
nghiệp Dệt May sử dụng 1,6 triệu lao động và dự kiến năm 2005 con số này có
thể lên đến 3 triệu lao động.
GDP của ngành Dệt May là một bộ phận của tổng sản phẩm trong nớc đợc
xã hội tổ chức quản lý, bảo toàn và phân phối cho ngời lao động. Ngành càng
phát triển thì GDP của ngành công nghiệp, của cả nớc và bình quân đầu ngời
cũng tăng thêm. Từ đó góp phần ổn định và thúc đẩy tiến bộ xã hội, cải thiện
13
quan hệ sản xuất, bảo đảm và tiến tới phân phối công bằng hơn về thu nhập,
đồng thời bảo đảm ngày càng nhiều công ăn việc làm cho xã hội, giảm tỷ lệ thất
nghiệp ở thành thị và tăng thời gian lao động đợc sử dụng ở nông thôn.
4. Vai trò của Công nghiệp Dệt May trong phát
triển kinh tế xã hội ở thành phố Hà Nội
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét